Banner SYT
  • IMG_0032.jpg
  • IMG_0040.jpg
  • khkt4.jpg
  • khkt8.jpg
  • khkt9.jpg
  • khkt10.jpg
  • khkt15.jpg
  • khkt18.jpg
  • LOGIN.jpg

TĂNG CHOLESTEROL MÁU, CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ , ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ ĂN VÀ VIỆC SỬ DỤNG CÁC STATIN 

Cùng với hút thuốc lá, tăng huyết áp và đái tháo đường , tăng chlolesterol máu là một yếu tố nguy cơ chính cho việc hình thành xơ vữa động mạch. Hầu hết bệnh mạch vành có nguyên nhân từ mảng xơ vữa tại động mạch vành. Xơ vữa động mạch cảnh cũng là một nguyên nhân dẫn đến cơn đột quỵ. 

Tình trạng vỡ các mảng xơ vữa bám trong động mạch vành là nguyên nhân bệnh lý nằm sau các hội chứng mạch vành cấp tính như đột tử , nhồi máu cơ tim cấp, và đau thắt ngực không ổn định. Các mãng xơ vữa bị vỡ rất giàu cholesterol , trong khi đó nguy cơ xảy ra các vấn đề liên quan đến mạch vành tỷ lệ với nồng độ cholesterol huyết thanh,đặc biệt là nồng độ cholesterol có lipoprotein tỷ trọng thấp ( LDL-C) .

+ Lipid máu

Lipid máu có thành phần cholesterol và triglycerid được vẫn chuyển dưới dạng các chất có phân tử lượng lớn trong máu với tên gọi là lipoprotein. Bên cạnh protein ( apoprotein), cholesterol, cholesteryl ester và triglycerid, các lipoprotein còn vận chuyển các chất chống oxy hóa như vitamin E, Polyphenol từ thức ăn và coenzym Q10. Lipoprotein được chia thành 5 nhóm chính : chylomicron, lipoprotein trọng lượng phân tử rất thấp ( VLDL) , lipoprotein trọng lượng phân tử trung bình ( IDL) lipoprotein trọng lượng phân tử thấp( LDL) và lipoprotein trọng lượng phân tử cao ( HDL). IDL và LDL là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng xơ vữa , ngược lại , HDL ngăn ngừa và làm chậm xơ vữa . Triglycerid tăng cường kéo theo VLDL tăng, lipoprotein này có tỉ lệ triglycerid : cholesterol là 2:1.Nguy cơ bệnh mạch vành và đột quỵ tăng lên đáng kể khi nồng độ triglycerid lúc đói tăng trên 1.5mmol/l.Cần lưu ý khi nồng độ này tăng trên 1.9mmol/l, nguy cơ bệnh mạch vành và đột quỵ tăng lên 30% so vói mức dưới 1.5mmol/l.

Tăng lipid máu thường do nguyên nhân tăng LDL cholesterol . Một số trường hợp lipid máu tăng do nồng độ HDL cholesterol tăng cao nhưng trong những trường hợp này nguy cơ bệnh tim mạch không tăng .Do LDL cholesterol chiếm 60-70% cholesterol toàn phần và gây xơ vữa nên đây là đích điều trị trên những bệnh nhân tăng cholesterol máu.

+ Các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch.

Nồng độ cholesterol đích là một yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được của bệnh tim mạch . Ngoài ra, còn các yếu tố có thể thay đổi khác được liệt kê tại bảng 1, trong đó đáng chú ý là những yếu tố liên quan đến lối sống mà không thể điều chỉnh được bằng thuốc.

Bảng 1: Những yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được của bệnh tim mạch

. Hút thuốc lá

. Tăng huyết áp

. Tăng cholesterol ( cholesterol toàn phần hoặc LDL – cholesterol )

. Giam HDL- cholesterol

. Đái tháo đường

. Béo phì ( vòng bụng lớn: nam > 90cm, nữ > 80cm , BMI > 25kg/m2

. Chứng ngưng thở khi ngủ

. Lối sống ( ít tập thể lực, chế độ dinh dưỡng nghèo nàn , cường độ căn thẳng cao và dùng nhiều rượu )

  • Thay đổi lối sống

Quy tắc SNAP được đưa ra bởi trường môn Hoàng gia các bác sỹ gia đình Úc ( Royal Australian College of General Practitioners-RACGP) cung cấp lời khuyên để đánh giá và kiểm soát nguy cơ.

SNAP viết tắt cho

S: quit Smoking ( dừng thuốc lá)

N: better Nutrition ( có chế độ dinh dưỡng hợp lý hơn)

A: moderate Alcohol ( sữ dụng rượu mức độ vừa phải )

P: more Physical activity ( tăng cường hoạt động thể lực )

S: quit Smoking ( dừng hút thuốc lá )

Nguy cơ tử vong do bệnh mạch vành trên đối tượng hút thuốc lá cao hơn 70% so với đối tượng không hút thuốc lá. Nguy cơ này giảm xuống 50% sau 1 năm cai thuốc và sẽ tiếp tục giảm dần sau đó.

N: better Nutrition ( chế độ dinh dưỡng hợp lý )

Thay thế chất béo bão hòa bằng carbohydrat hoặc thực phẩm giàu chất béo không bão hòa đơn hoặc đa và giàu chất xơ góp phần giảm LDL cholesterol hiệu quả do các chất này có tác dụng giảm LDL cholesterol một cách độc lập. Tránh các thực phẩm nướng chứa acid béo dạng trans như bánh quy, bánh ngọt…. Các bệnh nhân khác nhau có đáp ứng với chế độ ăn khác nhau và có thể được ghi nhận hiệu quả trong vòng 4-6 tuần. Những bệnh nhân có đáp ứng tốt có thể giảm lượng LDL cholesterol tới 30%. Các nghiên cứu dài hạn cho thấy các sterol trong thực vật cũng có thể làm giảm cholesterol toàn phần từ 1.3-3.8%.

Acid béo omega -3 từ dầu cá có tác dụng làm giảm tốt triglycerid nhưng không có tác dụng trên LDL cholesterol ở liều điều trị. Các acid béo chính trong dầu cá bao gồm acid aicosapentaenoic (EPA) và acid docosahexaenoic ( DHA ) . Dầu cá đã được chứng minh có tác dụng chống viêm và ức chế miễn dịch thông qua ức chế cạnh tranh tổng hợp thromboxan A2 ( với EPA )và tác động lên quá trình tổng hợp prostaglandin của tiểu cầu và mạch máu , làm giảm hoạt động của tiểu cầu ( với EPA và DHA ).

Hội tim mạch quốc gia Uc ( National Heart Foundation of Australia- NHFA) khuyến cáo nên sữ dụng khoảng 500mg DHA –EPA mỗi ngàytho6ng qua sữ dụng kết hợp:

2 hoặc 3 khẩu phần chứa 150g dầu cá mỗi tuần. Viên nang hoặc dung dịch dầu cá ( tỷ lệ EPA:DHA=3:2 ).

Thức ăn hoặc nước uống giàu acid béo không bão hòa 3 n-3 ( PUFA ) từ dầu hải sản.

Cần lưu ý với một số đối tượng đặc biệt như bệnh nhân có mạch vành nên sữ dụng 1000mg DHA- EPA mỗi ngày ; bệnh nhân có tăng triglycerid cần bắt đầu với liều 1200 mg ( 4 viên nang 300mg EPA-DHA ) mỗi ngày và tăng dần liều đến 4000 mg DHA- EPA mỗi ngày . theo định kỳ hàng tháng các dấu hiệu và triệu chứng chảy máu, đặc biệt trong trường hợp dùng phối hợp dầu cá với aspirin, các thuốc chống kết tập tiểu càu khác ( clopidogrel và dipyridamol ) hoặc các thuốc chống đông ( warfarin, heparin và heparin khối lượng phân tử thấp ).

A: moderate Alcohol ( sữ dụng rượu mức độ vừa phải )

Giới hạn lượng rượu sử dụng hàng ngày.

P: more Physical activity ( tăng luyện tập thể lực )

Các nghiên cứu chỉ ra rằng các bài tập thể lực cường độ thấp có thể cải thiện tình trạng lipid máu một cách độc lập bên cạnh thuốc và chế độ ăn. Việc luyện tập thường xuyên giúp giảm LDL cholesterol khoảng 5%. Tình trạng cải thiện lipoprotein tỷ lệ với mức độ luyện tập thể lực . Luyện tập ở mức độ trung bình thường được định nghĩa là tập luyện một cách có chủ đích ở cường độ trung bình mỗi ngày 30 phút trong hầu hết tất cả các ngày trong tuần.

+ Những quan ngại về nguy cơ tim mạch

Statin được chứng minh làm giảm 15% nguy cơ xảy ra biến cố tim mạch trên những bệnh nhân có thiếu máu tim cục bộ hoặc có nguy cơ cao trong vòng 5 năm. Tuy nhiên , chưa có bằng chứng rõ ràng chứng tỏa lợi ích của statin trên những người có nguy cơ tim mạch thấp hơn. Bảng 2 liệt kê những đối tượng có nguy cơ cao xảy ra các biến cố tim mạch ( > 15% trong vòng 5 năm tiếp theo ). Đây là những đối tượng không cần tính toán nguy cơ tim mạch mà có thể bắt đầu điều trị ngay bằng statin hoặc fibrate kết hợp vói một chế độ dinh dưỡng thích hợp. Các đối tượng còn lại nên áp dụng biện điều chỉnh chế độ dinh dưỡng trước , sau đó kết hợp điều chỉnh chế độ dinh dưỡng và sữ dụng thuốc. Cần xem xét và cân đối lại chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân hàng năm.

Bảng 2: Những đối tượng có nguy cơ cao xảy ra các biến cố tim mạch

. Tiền sử bệnh tim mạch và / hoặc bệnh mạch não

. Đái tháo đường có albumin niệu vi thể ( > 20µg / phút hoặc tỷ số albumin/ creatinin niệu > 2,5 mg/mmol với nam và > 3.5mg/ mmol với nữ )

. Đái tháo đường và tuổi > 60

. Bệnh thận mạn mức độ trung bình hoặc nặng ( tốc độ cầu thận ước tính < 45ml / phút /1,73m2

. Tiền sử gia đình tăng cholesterol máu

. Tiền sữ gia đình có bệnh mạch vành biểu hiện triệu chứng dưới 45 tuổi

. Cholesterol huyết thanh > 7,5 mmol/l

. Huyết áp tâm thu >= 180mmHg hoặc huyết áp tâm trương >= 110mmHg

. Thiểu năng tuyến giáp

. Bệnh gan tắc mật

  • + Giá trị cholesterol đích

Giá trị đích này phụ thuộc nguy cơ tính toán trên từng cá thể và các bệnh mắc kèm . Gía trị đích đối với người có nguy cơ bệnh mạch vành thấp là: LDL cholesterol < 4 mmol/l với triglycerid < 2 mmol/l, HDL cholesterol > 1mmol/l và cholesterol toàn phần < 5,5mmol/l. bảng 3 liệt kê giá trị cholesterol mục tiêu cho nhóm đối tượng nguy cơ cao sữ dụng liệu pháp điều chỉnh lipid máu theo khuyến cáo của Hội Tim Mạch Quốc gia Uc ( National Heart Foundation of Australia – NHFA ). Những giá trị này được đưa ra tương tự với những giá trị đích mới nhất được đưa ra trong kiểm soát đái tháo đường tại Uc .

Tuy nhiên , thử nghiệm gần đây chỉ ra lợi ích của việc giảm LDL –C dưới mức hiện đang khuyến cáo là < 2,5 mmol /l trên những bệnh nhân có bệnh mạch vành . kết quả từ các thử nghiệm này đưa ra giá trị LDL –C đích < 2,0mmol/l trên đối tượng bệnh nhân này. Nhiều thử nghiệm đang tiếp tục được tiến hành để xem xét tính hợp lý của giá trị đích mới được đưa ra.

Bảng 3: Gía trị đích cần đạt trên những đối tượng có nguy cơ cao sữ dụng liệu pháp điều chỉnh lipid máu

. Cholesterol toàn phần < 4,0mmol/l

. LDL-C < 2,5 mmol/l

. HDL-C >1,0 mmol/l

. Triglycerid < 1,5mmol/l

  1. Các thuốc hạ cholesterol

Những đối tượng có nguy cơ cao gặp các biến cố tim mạch có LDL cao và nguy cơ tim mạch tính toán được > 15% cần được điều trị bằng thuốc. Để hạ cholesterol , thuốc được sữ dụng phổ biến nhất là các chất ức chế HMG – CoA reductase ( statin), ezetimib. Nhựa gắn acid nicotinic được sữ dụng đễ giảm triglycerid. Trong một số trường hợp có thể cần phối hợp thuốc.

Một phân tích gộp từ các thử nghiệm ngẫu nhiên về statin cho thấy khi LDL giảm mỗi 1 mmol/l ( tương đương LDL-C giảm khoảng 20% ) thì nguy cơ xảy ra các biến cố mạch vành giảm 20-30%.

  1. Các statin

Tại Uc, số bệnh nhân được chẩn đoán cholesterol cao đã tăng gấp đôi từ năm 2004 đến 2009. trong số các thuôc 1 sữ dụng , statin là thuốc được kê đơn nhiều nhất trên cả số lượng và chi phí. Ba statin được kê đơn nhiều nhất bao gồm Atorvastatin , simvastatin và rosuvastatin.

Các statin có tác dụng ức chế tổng hợp cholesterol , tăng số lượng thụ thể LDL , đồng thời làm giảm nồng độ triglycerid và tăng nhẹ HDL-C . Mức độ làm giảm LDL giữa các thuốc trong nhóm khác nhau, trong đó rosuvastatin , atorvastatin và simvastatin có hiệu lực cao hơn so với fluvastatin và pravastatin . Mặc dù mức độ làm giảm LDL của các statin khác nhau, hiện chưa có bằng chứng chứng minh statin nào hiệu quả hơn trong việc làm giảm các biến cố tim mạch do chưa có thử nghiệm so sánh trực tiếp các statin với nhau ở mức liều tương đương.

+ Liều dùng của các statin

Do khả năng xảy ra các phản ứng có hại của statin ( như bệnh cơ và tăng men gan ) tăng liều theo dùng , bệnh nhân được khuyến cáo bắt đầu dùng liều thấp ( trừ trường hợp nguy cơ rất cao ) , theo dõi chặt chẽ và tăng liều nếu cần thiết với khoảng thời gian giữa các lần tăng liều ít nhất là 4 tuần. Hơn 80% tác dụng làm giảm LDL của statin đạt được tại 50%.

Mức liều tối đa.Trong trường hợp cần thiết nên phối hợp statin vói ezetimib hoặc các nhựa resin gắn vào acid mật ( dùng liều thấp ) để hạ cholesterol về mức mục tiêu hơn là dùng statin liều cao đơn độc.

+ Tương tác thuốc

Atorvastatin và simvastatin được chuyển hóa chủ yếu qua CYP3A4,fluvastatin chuyển hóa chủ yếu qua CYP2C9 và một phần nhỏ qua CYP3A4. Ngược lại, pravastatin vàrosuvastatin ít được chuyển hóa qua enzym cytochrom P450. Nồng độ statin ( trừ pravastatin và rosuvastatin ) tăng lên khi dùng đồng thời với các thuốc ức chế men này , dẫn đến làm tăng nguy cơ bệnh cơ và tiêu cơ vân. Có thể giảm thiểu nguy cơ bằng cách sữ dụng các statin thay thế thích hợp như pravastatin hoặc rosuvastatin ; hoặc sữ dụng liều thấp nhất có hiệu quả , theo dõi các tác dụng không mong muốn và đo nồng độ creatinin kinase nếu có chỉ định.

+ Các tác dụng không mong muốn của statin

Hơn 90% các tác dụng không mong muốn xảy ra trên bệnh nhân xảy ra trong vòng 3 tháng đầu tiên. Các tác dụng không mong muốn của statin phụ thuộc liều và tương tự giữa các statin . nếu bệnh nhân gặp tác dụng không mong muốn khi sữ dụng một statin nào đó , có thể cân nhắc giảm liều , chia thành các liều nhỏ hoặc dùng cách ngày. Ngoài ra , bệnh nhân có thể thay thế bằng một statin khác thích hợp. Tác dụng không mong muốn thường gập là đau xương khớp .Ngoài ra có thể gặp tăng enzym creatin kinase ( CK ) và hiếm gặp viêm cơ thực sự ( < 1/1000 ). Nguy cơ viêm cơ tăng trên bệnh nhân suy thận , đái tháo đường và trên người cao tuổi. Nếu nồng độ creatin kinase tăng cao hơn 300 IU/ml, cần cân nhắc việc ngừng dùng thuốc và làm hại xét nghiệm sau 1 tuần. Tuy vậy, các bác sỹ vẫn chưa thống nhất về thời điểm dừng statin ở những bệnh bênh già yếu trong các cơ sở chăm sóc người cao tuổi.

+ Xét nghiệm đánh giá chức năng gan

Một tác dụng không mong muốn có thể gặp của statin là tăng men gan, vì vậy khuyến khích làm các xét nghiệm đánh giá chức năng gan trong quá trình sữ dụng thuốc. Hiếm khi gặp viêm gan thực sực trong quá trình dùng thuốc. Cần đánh giá định kỳ chức năng 6 tháng 1 lần. Nếu men gan tăng cao 2 lần giới hạn trên, khuyến cáo ngừng dùng statin và làm lại xét nghiệm đánh giá chức năng gan trong vòng 3-4 tuần và đánh giá lại với mức liều thấp hơn. Nhiều bệnh nhân có tăng men gan nhẹ , thoán qua và không để lại hậu quả. Tăng men gan kéo dài ở mức độ trung bình ( gấp 2-3 lần giới hạn trên bình thường ) có thể do bệnh gan nhiễm mỡ nhiều hơn là do khác.

Chưa có thử nghiệm chỉ ra hiệu quả của việc dùng phối phợp thuốc Co-enzym Q10 với statin trong dự phòng đau cơ. Các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên đánh giá hiệu quả của Co-enzym Q10 để kiểm soát viêm cơ do statin cho kết quả còn nhiều mâu thuẩn.

Hướng dẫn kê đơn Quốc gia tại Uc ( National prescribing service – NPS ) không ủng hộ việc sữ dụng Co-enzym Q10 thường quy ở bệnh nhân điều trị bằng statin.

+ Cảnh báo về độ an toàn đối với simvastatin

Tháng 12 năm 2011, cơ quan Quản lý dược phẩm Uc ( TGA ) cập nhật về độ an toàn của simvastatin được tóm tắt trong bảng 4 dưới đây.

Bảng 4: Cảnh báo về độ an toàn của simvastin

. Chỉ nên sử dụng mức liều 80mg/ ngày trên những bệnh nhân có nguy cơ gặp biến chứng tim mạch không đạt mục tiêu điều trị với mức liều thấp hơn và lợi ích được dự đoán vượt trội nguy cơ.

. Chống chỉ định dùng đồng thời simvastatin với các thuốc ức chế CYP3A4 gemfibrozil, cyclosporin hay danazol.

. Chống chỉ định simvastatin trên bệnh nhân mắc bệnh cơ thứ phát sau khi dùng các thuốc hạ lipid máu khác.

. Ở những bệnh nhân trong quá trình sữ dụng simvastatin cần phải dùng các thuốc khác gây tương tác thuốc , cần giảm liều statin hoặc thay thế một statin khác có nguy cơ tương tác thấp hơn.

. Cán bộ y tế cần trao đổi với bệnh nhân bắt đầu điều trị bằng simvasatatin hoặc muốn tăng liều thuốc về nguy cơ bệnh cơ và dặn bệnh nhân nhanh chóng báo cáo các phản ứng cơ bất thường cỏ thể gập trong quá trình sữ dụng thuốc như đau, mềm cơ hay nhược cơ cho cán bộ y tế .

. Nếu nghi ngờ gập phải các phản úng bất thường về cơ, cần dừng thuốc ngay.

. Yêu cầu cán bộ y tế báo cáo các phản ứng có hại về bệnh cơ nghi nghờ liên quan đến simvastatin

  • + Những quan ngại về nguy cơ đái tháo đường và suy giảm trí nhớ

Đầu năm 2012 cơ quan Quản lý Hoa kỳ ( Regulators in United States ) có thông báo về việc cân nhắc tư vấn khi kê đơn cho statin làm tăng nhẹ nguy cơ đái tháo đường và do các báo cáo về vấn đề liên quan đến trí nhớ. Vấn đề này làm gia tăng nghi ngại trên bệnh nhân ,làm tăng tình trạng không tuân thủ điều trị và nhấn mạnh vai trò tư vấn của cán bộ y tế trong việc đánh giá nguy cơ. Các bằng chứng tổng hợp được bởi cơ quan Quãn lý Dược phẩm và thực phẩm Hoa Kỳ ( FDA ) cho thấy trên đối tượng bệnh nhân nguy cơ cao gặp các biến cố tim mạch ( nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ ) , nguy cơ đái tháo đường do statin là nhỏ so vói hiệu quả làm giảm biến cố. Trong một phân tích tổng hợp các thử nghiệm liên quan đến statin trên hơn 90.000 đối tượng, số ca mắc đái tháo đường mới tăng ở cả nhóm sữ dụng statin và nhóm đối chứng. Mặc dù số ca mắc đái tháo đường mới ở nhóm dùng statin tăng hơn 9%, kết quả trên cho thấy có thể chính nguy cơ bệnh tim mạch trên bệnh nhân là nguyên nhân làm tăng nguy cơ đái tháo đường .

Statin hiện đang được kê đơn rộng rãi , tuy vậy, chỉ ghi nhận được một số lượng tương đối nhỏ báo cáo về suy giảm trí nhớ nhẹ trên bệnh nhân sữ dụng statin. Các phản ứng này mất đi sau khi ngừng dùng thuốc.

  1. Các thuốc khác

         Ezetimib

Ezetimib có hiệu quả trên khoảng 75% bệnh nhân không dung nạp statin. Thuốc làm giảm hấp thu cholesterol từ thức ăn và từ mật do ức chế vận chuyển cholesterol qua thành ruột , từ đó làm tăng nhu cầu cholesterol , tăng sữ dụng LDL khoảng 18% và có thể làm giảm tiếp LDL cholesterol trên những bệnh nhân đã dùng liều tối đa statin. Việc dùng đồng thời ezetimib 10 mg hàng ngày có thể tạo tác dụng hiệp đồng giảm LDL cholesterol thêm 20-25%. Bệnh nhân nhạy cảm với các tác dụng không mong muốn của statin có thể được điề trị ổn định bằng ezetimib trước , sau đó dùng liều nhỏ statin với khoảng cách liều 2-3 ngày/lần. Tuy nhiên, cần có thêm các nghiên cứu để chứng minh hiệu quả về độ an toàn trên lâm sàng của ezetimib khi sử dụng đơn độc hay phối hợp với các thuốc hạ lipid máu khác.

     Các lựa chọn khác

Đứng sau statin và ezetimib , có thể cân nhắc sử dụng một số thuốc khác như nhựa gắn acid mật ( như cholestyramin ), fenofibrat và acid nicotinic ( niacin, vitamin B3 ). Hơn 50% bệnh nhân không dung nạp mức liều trên 4 g cholestyramin/ ngày. Thuốc này tốt nên dùng cùng nước trái cây. Dùng một gói nhỏ cholestyramin/ ngày có thể hạ LDL cholesterol khoảng 10% và cho hiệu quả tốt hơn nếu phối hợp cùng statin.

Fenofibrat liều 145mg/ ngày có thể giảm LDL cholesterol khoảng 10% nhưng chủ yếu làm giảm triglycerid . Gemfibrozil không có hiệu quả giảm LDL cholesterol.

Trong trường hợp fibrat và/ hoặc dầu cá không đạt hiệu quả giảm LDL –C , có thể cân nhắc sử dụng acid nicotinic liều khởi đầu 250mg x 2 lần / ngày và tăng dần đến liều không quá 250 mg x 3-4 lần / ngày để giảm thiểu các tác dụng không mong muốn như giảm cảm giác nóng bừng và ngứa. Acid nicotinic liều 3g/ ngày làm giảm LDL cholesterol khoảng 20% , tuy nhiên , hơn 75% số bệnh nhân không thể dùng thuốc này với mức liều chỉ bằng 50% mức liều trên do gặp cảm giác nóng bừng nghiêm trọng. Tác dụng không mong muốn này có thể được giảm thiểu bằng cách tăng liều từ từ như đã cấp ở trên.

+ Điều trị tăng triglycerid máu

Lựa chọn đầu tay trong điều trị tăng triglycerid máu ( VLDL cholesterol ) bao gồm áp dụng chế độ ăn giàu chất béo không bão hòa đơn và đa , đồng thời sử dụng thực phẩm carbohydrat có chỉ số glycemic thấp, hạn chế lượng calo hấp thụ vào cơ thể ( giúp giảm cân ) và tăng cường hoạt động thể lực. Tiếp theo có thể cân nhắc việc sử dụng acid béo omega-3 ( dầu cá ) phối hợp hoặc không phối hợp với fibrat ( fenofibrat hoặc gemfibrozil ).

Dầu cá có tác dụng làm giảm nồng độ triglycerid huyết thanh nếu sử dụng hàng ngày với liều tương đương 2-5 g acid béo omega-3. Hàm lượng acid béo chứa trong các sản phẩm khác nhau, vì vậy liều dùng cần được tính riêng cho mỗi sản phẩm.

+ Vấn đề tuân thủ trong điều trị hạ lipid máu

Việc tuân thủ những thay đổi lối sống hợp lý và việc tuân thủ sử dụng thuốc giảm dần theo thời gian. Số bệnh nhân tuân thủ điều trị giảm xuống còn 83% sau sáu tháng và 65% sau 24% tháng . việc tuân thủ thay đổi lối sống bắt đầu giảm 4-6 tháng trong hầu hết các chương trình.

Nguồn thông tin: The Australian journal of pharmacy vol.93 july 2012 trên tạp chí “Nghiên cứu dược & thông tin thuốc”

                                                                       Duyệt tổ thông tin thuốc

ĐƯỜNG DÂY NÓNG

- Bộ y tế:       1900.9095

- Sở y tế:       0969.871.919

- Bệnh viện:  0969.861.919

GIỜ KHÁM BỆNH

- SÁNG: 7h00 - 11h00

- CHIỀU: 11h00 - 17h00

Khám bệnh từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần (trừ ngày lễ, tết)

Thống kê thành viên truy cập

00332046

Trang web hiện có:
13 khách & 0 thành viên trực tuyến

Slogan1

Bản quyền thuộc về Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang
Địa chỉ: 917 Tôn Đức Thắng - Phường Vĩnh Mỹ - Thành Phố Châu Đốc - An Giang

Được thiết kế bởi Tổ Vi Tính - Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang - Điện thoại: 0763.569568 - Email: bvdkkv.angiang@gmail.com
Copyright © 2012. All Rights Reserved.