Banner SYT
  • IMG_0032.jpg
  • IMG_0040.jpg
  • khkt4.jpg
  • khkt8.jpg
  • khkt9.jpg
  • khkt10.jpg
  • khkt15.jpg
  • khkt18.jpg
  • LOGIN.jpg

Bệnh loãng xương được ví như những tên ăn cắp vặt, mỗi ngày một chút, chúng lấy dần các khóang chất quý báu trong ngân hàng xương của mỗi chúng ta. Lúc đầu, thường không có biểu hiện gì, nhưng khi có các dấu hiệu rõ ràng, khối lượng xương thường đã mất tới trên 1/3 (35%). Hậu quả gãy xương do loãng xương thường khá nặng nề với sức khỏe người có tuổi vì xương đã bị loãng rất lâu liền, người bệnh phải nằm lâu ngày nên rất dễ bị bội nhiễm (Viêm phổi, viêm đường tiết niệu, loét mục...).

Điều trị loãng xương thường khá tốn kém, đặc biệt khi đã có các biến chứng nặng nề như gãy xương, gãy lún cột sống... Hiệu quả nhất, kinh tế nhất là phòng bệnh, phòng bệnh từ khi còn nhỏ, từ khi còn trẻ, từ các thế hệ trước... để khối lượng khóang chất đỉnh của bộ xương đạt con số cao nhất lúc tuổi trưởng thành, đồng thời duy trì một nếp sống và sinh hoạt lành mạnh, giảm tối đa các yếu tố nguy cơ của bệnh.

HẬU QUẢ CỦA BỆNH LOÃNG XƯƠNG?

Gãy xương khi bị những chấn thương nhẹ là hậu quả cuối cùng cuả bệnh loãng xương. Gãy xương do loãng xương thường gặp ở các vị trí chịu lực của cơ thể như cột sống thắt lưng và cổ xương đùi. Với người có tuổi, thường có nhiều bệnh lý cuả tuổi tác đi kèm như tim mạch, huyết áp, tiểu đường... và đặc biệt với tình trạng loãng xương nặng saün có (thiếu chất khoáng và protein cuả xương) thì việc liền xương thường rất khó khăn, đa số người bệnh phải nằm tại chỗ nhiều ngày, thậm chí phải nằm điều trị dài ngày trong bệnh viện. Việc nằm tại chỗ dài ngày khi gãy xương không những làm tình trạng loãng xương càng nặng lên mà còn kéo theo nhiều nguy cơ rất bất lợi cho sức khỏe người có tuổi như bội nhiễm đường hô hấp, đường tiết niệu, loét mục ở các điểm tỳ đè... Đây cũng là một nguyên nhân chính gây tàn phế và giảm tuổi thọ cho người có tuổi (Theo thống kê ở các nước phát triển có đến 20% người có tuổi bị gãy cổ xương đùi sẽ tử vong trong vòng 6 tháng đầu vì các biến chứng do nằm lâu nêu trên)

KHI BỊ BỆNH LOÃNG XƯƠNG RỒI CÓ CHỮA ĐƯỢC KHÔNG?

Bệnh loãng xương có thể được cải thiện nhờ một chế độ ăn uống sinh hoạt và thuốc men hợp lý. Các nghiên cứu theo dõi dài hạn cho thấy việc điều trị đã làm tăng được khối lượng khoáng chất của xương, giảm đau đớn, phòng ngừa được gãy xương, giảm các nguy cơ gãy xương...cải thiện chất lượng cuộc sống cho người có tuổi.

Chế độ ăn uống, sinh hoạt

Cần duy trì một chế độ ăn uống đầy đủ, đa dạng, hợp lý phù hợp với nhu cầu của cơ thể trong từng giai đoạn, từng lứa tuổi, từng thói quen sinh hoạt.

Theo các nghiên cứu gần đây của Trung tâm dinh dưỡng Thành phố Hồ Chí Minh, chế độ ăn cuả dân ta nói chung rất thiếu calci. Sữa và các sản phẩm từ sữa (bơ, phomat..) giầu calci chỉ chiếm một vị trí rất khiêm nhường trong khẩu phần ăn cuả đa số dân ta và con số ít oiû này cũng chỉ tập trung ở một số thành phố lớn như TP. Hồ Chí Minh và Hà nội .

Ở người có tuổi cần đặc biệt quan tâm đến các thành phần khóang chất (đặc biệt là calci) và protid trong khẩu phần ăn vì ở người có tuổi khả năng ăn uống và hấp thu các chất dinh dưỡng và khóang chất đều bị hạn chế. Chính vì vậy sữa là một loại thức ăn lý tưởng để cung cấp cả calci và protid cho người có tuổi. Lượng sữa cần thiết mỗi ngày từ 500 đến 1.000 ml (có thể là sữa tươi, sữa chua hoặc sữa pha từ sữa bột).

Cần duy trì một chế độ sinh hoạt đa dạng, năng động: vận động thể lực đều đặn, vừa sức, tăng cường các hoạt động thể lực ở ngoài trời. Việc vận động thường xuyên vừa có ích cho toàn cơ thể (hệ tim mạch, hệ hô hấp, hệ thống tiêu hóa...) vừa tác dụng tốt trực tiếp cho hệ thống xương cơ khớp, chống thóai hóa và chống loãng xương (do tăng cường hoạt động của tế bào sinh xương, tăng cường hấp thu calci và protid).

Đối với người lớn tuổi cần hết sức tránh bị té ngã vì khi xương đã bị loãng, gãy xương sẽ rất dễ xảy ra, khi gãy lại rất khó liền. Việc bất động để điều trị gãy xương không những làm cho loãng xương nặng thêm mà còn là nguy cơ của nhiều bệnh lý do nằm lâu khác

Chế độ thuốc men

Thuốc giảm đau chỉ dùng khi cần thiết, tùy mức độ có thể dùng các thuốc giảm đau đơn thuần (Paracetamol, Idarac...) hay dùng Calcitonine thuốc vừa có tác dụng ức chế hoạt động của các tế bào hủy xương vừa có tác dụng giảm đau do hiện tượng loãng xương. Tránh dùng các thuốc kháng viêm giảm đau đặc biệt nhóm thuốc kháng viêm chứa Corticosteroides.

Cung cấp calci theo nhu cầu của cơ thể ở từng lứa tuổi, từng trạng thái cơ thể... để bổ sung cho những thiếu hụt mà khẩu phần ăn hàng ngày chưa đáp ứng đủ (Ở người có tuổi, nhu cầu về calci tăng mà khả năng hấp thu calci ở ruột lại bị giảm sút, ở phụ nữ có thai, cho con bú, sau mãn kinh... nhu cầu calci đều tăng...)

Cung cấp vitamin D hoặc chất chuyển hóa cuả vitamin D (Calcitriol - Rocaltrol) để tăng cường khả năng hấp thu và sử dụng calci của cơ thể.

Dùng các thuốc để ức chế hoạt động của các tế bào hủy xương:Liệu pháp hormon thay thế (hormon sinh dục nữ cho phụ nữ sau mãn kinh), Calcitonine... theo chỉ định và theo dõi của thầy thuốc.

Dùng các thuốc để kích thích hoạt động của các tế bào sinh xương:Các chất làm tăng đồng hóa (Durabolin, Deca-Durabolin), hormon sinh dục nam (cho nam giới nếu có thiếu hụt cần bổ xung), muối Fluoride... theo chỉ định và theo dõi của thầy thuốc.

Để có kết quả, việc điều trị loãng xương cần toàn diện, liên tục và lâu dài. Thời gian điều trị bệnh loãng xương phải được tính bằng năm chứ không tính được bằng tháng (Để đánh giá kết quả điều trị, thường phải sau 2 năm) nên chi phí thường quá cao so với mức sống hiện nay của đa số nhân dân lao động. Chính vì vậy việc phòng ngừa bệnh có ý nghĩa rất lớn, cả về mặt hiệu quả và kinh tế.

CÓ CÁCH GÌ ĐỂ PHÒNG NGỪA BỆNH LOÃNG XƯƠNG?

Việc đầu tiên và quan trọng nhất là bảo đảm khối lượng khóang chất đỉnh cuả bộ xương cao nhất lúc trưởng thành bằng cách:

Bảo đảm một chế độ dinh dưỡng đầy đủ cho các bà mẹ khi mang thai (để em bé có bộ xương "vốn liếng" tốt nhất), khi cho con bú (để đủ calci cho sự phát triển của bộ xương ngay từ đầu).

Bảo đảm chế độ dinh dưỡng và vận động cho trẻ em để đạt mức phát triển cơ thể tốt nhất.

Duy trì một chế độ dinh dưỡng hợp lý, một nếp sống lành mạnh, năng động, kết hợp hài hòa giữa công việc hàng ngày, hoạt động thể lực, giải trí... ngay từ khi còn nhỏ, ngay từ khi còn trẻ, tránh các thói quen gây ảnh hưởng xấu tới chuyển hóa calci như: uống nhiều rượu, bia, cafe, hút thuốc, ăn kiêng quá mức, thụ động, ít vận động thể lực... Từ tuổi 40, hoạt động của các tế bào hủy xương bắt đầu trội hơn các tế bào sinh xương vì vậy chúng ta nên tính toán cụ thể và bổ xung đủ lượng calci cần thiết bằng chế độ ăn uống hàng ngày và tăng cườnghơn nữa các hoạt động thể lực ngoài trời.

Phát hiện vá điều trị các bệnh kèm theo. Điều chỉnh và kiễm soát chặt chẽ các thuốc điều trị.

Nếu cần sử dụng lâu dài các thuốc chống co giật (Phenyltoin, Barbiturate...), bổ xung thêm vitamin D vì các thuốc này ảnh hưởng đến chuyển hóa của vitamin D.

Nếu cần sử dụng lâu dài Corticosteroid, bổ xung thêm calci, vitamin D và chất kích thích tạo xương vì Corticosteroid vừa ức chế trực tiếp sự tạo xương, vừa giảm hấp thu vitamin D, vừa tăng thải calci qua nước tiểu.

Ở phụ nữ mãn kinh một mặt tăng cường bổ xung calci, vitamin D, khuyến khích hoạt động thể lực và tập luyện ngoài trời, khuyến khích tham gia công tác và giao tiếp xã hội, mặt khác động viên và hường dẫn chị em áp dụng Liệu pháp hormon thay thế nếu có chỉ định và có điều kiện (Điều kiện theo dõi, điều kiện kinh tế). Tốc độ mất xương sẽ cao nhất sau mãn kinh từ 5 đến 7 năm, vì vậy Liệu pháp hormon thay thế rất cần được áp dụng sớm để ngăn ngừa loãng xương sau mãn kinh. Đây là nguyên nhân quan trọng nhất, mang lại hậu quả nặng nề nhất cho nhiều phụ nữ lớn tuổi.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BIẾT ĐIỀU TRỊ CÓ KẾT QUẢ?

Bệnh loãng xương cần được điều trị toàn diện, liên tục và lâu dài. Có thể đánh giá kết quả điều trị cần dự?bị mất một đoạn?xương trước và sau một thời gian điều trị (thường là 1 - 2 năm).

DEXA (Quét và đo độ hấp thu Proton của xương) để theo dõi sự cải thiện của Tỷ lệ khóang chất (BMD) và Khối lượng xương (BMC) sau một thời gian điều trị (thường là 1 - 2 năm).

KẾT LUẬN

loãng xương là một bệnh phổ biến ở người lớn tuổi đặc biệt là phụ nữ sau mãn kinh. Khi đã bị bệnh, để giảm các biện chứng nặng như gãy cổ xương đùi, gãy xương cổ tay, gãy xẹp đốt sống... cần phải thực hiện nhiều biện pháp, nhiều loại thuốc liên tục và kéo dài. Chi phí điều trị loãng xương hàng năm rất lớn và ngày càng gia tăng, chất lượng cuộc sống của người có tuổi bị ảnh hưởng... là điều các quốc gia đều cần phải quan tâm.

"Phòng bệnh hơn Chữa bệnh". Bệnh loãng xương có thể được phoìng ngừa tốt bằng việc duy trì một chế độ ăn uống, sinh hoạt, tập luyện, vận động đầy đủ và hợp lý ngay từ khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành và trong suốt cuộc đời. Đây phải là ý thức tự giác của nhiều thế hệ cha mẹ khỏe mạnh, các con khỏe mạnh. Riêng ở phụ nữ sau khi mãn kinh, loãng xương sẽ được phòng ngừa tốt nhất bằng liệu pháp hormon thay thế (nếu có chỉ định và điều kiện) kết hợp với chế độ ăn uống, sinh hoạt, tập luyện, vận động đầy đủ và hợp lý.

 Điều trị loãng xương ở người cao tuổi

  Phụ nữ thời kỳ sau mãn kinh, do giảm các hormon sinh dục nên hay mắc chứng bệnh loãng xương. Ở nam giới ngoài tuổi 60 cũng có hiện tượng giảm nồng độ hormon gây ra bệnh loãng xương.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, loãng xương là một bệnh xương toàn thân do giảm sức chống đỡ của hệ xương và làm tăng nguy cơ gãy xương. Khả năng chống đỡ của xương được đánh giá bởi mật độ khoáng của xương và chất lượng xương. Để đánh giá mật độ xương, ngày nay ở Việt Nam đã có nhiều máy đo được mật độ xương ở cổ xương đùi, cột sống thắt lưng và đo toàn thân.

Các nhóm tuổi cần chú ý khi điều trị loãng xương: Nhóm tuổi 50-60, đây là nhóm tuổi sau mãn kinh đối với nữ. Nhóm tuổi 60 – 80 cả nam và nữ. Nhóm tuổi trên 80 cả nam và nữ.

Tại sao phải điều trị loãng xương?

Sự mất xương diễn ra từ từ, loãng xương được coi là bệnh thầm lặng. Bởi vậy khi bệnh nhân xuất hiện cơn đau cấp ở vùng lưng hay mạng sườn và đau tăng khi thay đổi tư thế, trên phim chụp cột sống đoạn lưng hay đoạn thắt lưng thấy xẹp lún đốt sống gọi là tình trạng loãng xương nặng. Loãng xương thường dẫn đến gãy xương. Trong cộng đồng người ta thấy tần suất gãy xương do loãng xương rất thường gặp, đặc biệt ở phụ nữ sau mãn kinh thường hay bị xẹp lún đốt sống. Ở nam giới thường hay bị gãy cổ xương đùi. Ngoài ra, gãy đầu dưới xương quay.

Ngày nay, tuổi thọ được nâng cao tuy nhiên tuổi gãy xương thường gặp sau 65 tuổi. Gãy xương chi phí điều trị tốn kém, đối với gãy cổ xương đùi tăng tỷ lệ tử vong trong năm đầu tiên và để lại di chứng nặng nề, ảnh hưởng chất lượng sống, tiên lượng rất xấu. Ở bệnh nhân loãng xương đã gãy xương không chỉ gãy một lần mà còn gãy nhiều lần, đồng nghĩa việc tái phát gãy xương rất cao. Điều trị với mục đích giảm đau nhanh cho bệnh nhân trong trường hợp đau cấp do gãy xương và tăng khả năng vận động, phòng ngừa gãy xương mới.

Các yếu tố nào gây nguy cơ gãy xương? Ở nhiều gia đình người ta thấy có yếu tố di truyền về loãng xương và gãy xương. Phụ nữ sau tuổi mãn kinh, hay mãn kinh sớm trước 45 tuổi. Chế độ ăn nghèo canxi và vitamin D. Nam giới hút thuốc lá và uống quá nhiều rượu.

Những người có cơ thể bé nhỏ, những người ít hoạt động thể lực và có yếu tố nguy cơ ngã cao.

Ðiều trị loãng xương cần chú ý điều gì?

Điều trị loãng xương có sự khác biệt giữa nữ và nam và ở các lứa tuổi khác nhau. Lứa tuổi 50-60; tuổi 60-80 và ngoài 80 tuổi. Điều trị loãng xương không gãy xương và loãng xương có gãy xương. Để cho hệ vận động được tốt, các hoạt động thể lực thường xuyên rất cần thiết như đi cầu thang bộ, vì tổ chức xương là một mô sống luôn luôn được đổi mới. Cung cấp đủ vitamin D, ngoài chế độ dinh dưỡng và phơi nắng khoảng 30 phút mỗi ngày trước 9 giờ sáng, kiểm tra lượng vitamin D của bản thân có đủ hằng số sinh lý. Thiếu vitamin D có thể gây nên nhiều bệnh đi kèm không chỉ bị loãng xương, nhuyễn xương, mà còn giảm khối lượng cơ nên nguy cơ té ngã cao. Việc cung cấp đủ canxi và protein là rất bổ ích cho người mắc chứng loãng xương. Thầy thuốc chọn lựa thuốc điều trị loãng xương tùy thuộc các đặc điểm riêng của từng người bệnh. Khi điều trị, người bệnh cần tuân thủ chỉ định điều trị của bác sĩ như: uống thuốc hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, hàng năm. Thầy thuốc và người bệnh nên có sự liên hệ để theo dõi đáp ứng của thuốc và tác dụng không mong muốn do thuốc gây ra. Thuốc uống hàng tuần ví dụ fosamax mỗi tuần uống 1 viên và kéo dài trong nhiều năm từ 4 – 5 năm. Thuốc truyền tĩnh mạch ví dụ aclasta mỗi năm truyền tĩnh mạch 1 lần (truyền thuốc ở bệnh viện) và điều trị liên tục trong 3 năm. Các thuốc nhóm này ở ngày đầu uống thuốc hay truyền thuốc có thể gây sốt, đau cơ, hội chứng giả cúm, đau đầu gặp và đau khớp làm cho bệnh nhân thấy khó chịu. Để giảm bớt các triệu chứng trên bệnh nhân cần uống đủ nước, uống đủ canxi và vitamin D khi điều trị.

Ở người già ngoài 80 tuổi, việc luyện tập cần chú ý đề phòng té ngã vì nguy cơ gãy xương rất cao ở người cao tuổi. Để tránh giảm khối lượng cơ và mật độ xương, ngoài việc đi bộ chú ý cung cấp đủ thực phẩm giàu protein, đủ canxi, vitamin D. Điều trị loại thuốc ức chế hủy xương như biphosphonat (fosamax hoặc aclasta). Ở người già không sử dụng loại raloxifene vì không phòng được gãy cổ xương đùi và thuốc này làm tăng nguy cơ huyết khối. Ở Việt Nam hiện tại chưa có denosumab (prolia), thuốc tiêm dưới da cách 6 tháng tiêm một lần. Điều trị loãng xương cho người già ngoài 80 tuổi không những sử dụng các thuốc làm giảm nguy cơ gãy xương cột sống, gãy cổ xương đùi và gãy cổ tay, mà cần chú ý dự phòng nguy cơ té ngã.

Ai nên đo mật độ xương?

Phụ nữ sau mãn kinh hoặc mãn kinh sớm. Ở người già, mất xương tăng theo tuổi. Những người có ông, bà, bố, mẹ bị loãng xương. Những người có cuộc sống tĩnh tại, ít vận động. Bệnh nhân điều trị bằng corticoid kéo dài và thuốc chống co giật. Phụ nữ trẻ chán ăn do mắc chứng tâm thần. Nam giới uống nhiều rượu hoặc hút nhiều thuốc lá. Những người thấp bé nhẹ cân hay chỉ số khối cơ thể dưới 19 (kg/m2). Mất chất khoáng và biến dạng đốt sống. Những người mắc các bệnh nội tiết như suy giảm nội tiết tố, cường giáp hoặc điều trị bằng thuốc thyroxine. Bệnh nhân mắc các bệnh khớp viêm mạn tính như viêm khớp dạng thấp và viêm cột sống dính khớp. Bệnh nhân trước đó bị gãy khớp háng…

TS.BS. Mai Thị Minh Tâm

_______//_______

10 CÁCH NGĂN NGỪA THOÁI HÓA KHỚP

Tác giả : BS. HUỲNH BÁ LĨNH (BV. Chấn thương Chỉnh hình - TPHCM)

Thoái hóa khớp là nguyên nhân hàng đầu gây ra chứng đau khớp ở người trưởng thành. Từ chuyên môn gọi là viêm xương khớp (osteoarthritis). Trước đây người ta xem nó là căn bệnh của người cao tuổi. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy có rất nhiều người dưới 40 tuổi cũng bị thoái hóa khớp. Thường gặp nhất là do chấn thương và khớp làm việc quá tải. Ngoài ra còn một nguyên nhân trước đây ít gặp nhưng nay khá phổ biến là bệnh béo phì. Hiếm gặp hơn là các nguyên nhân về di truyền (gen) hay khiếm khuyết bẩm sinh về xương khớp.

Ðiểm lại các nguyên nhân thường gặp, chúng ta thấy rõ thoái hóa khớp là bệnh có thể ngăn ngừa được. Sau đây là 10 biện pháp được các nhà chuyên môn đề nghị:

1. Duy trì trọng lượng cơ thể ở mức độ thích hợp

Khi bạn càng béo, sức nặng đè lên khớp càng lớn, nhất là vùng lưng, khớp háng, khớp gối và bàn chân.

2. Siêng vận động

Luyện tập thể dục, thể thao vừa sức sẽ giúp cơ bắp khỏe mạnh, máu huyết lưu thông dễ dàng. Ðó là yếu tố giúp tăng cường dinh dưỡng cho lớp sụn khớp. Cơ bắp khỏe mạnh sẽ giúp giảm lực đè ép lên khớp xương trong vận động.

3. Giữ tư thế cơ thể luôn thẳng

Tư thế tốt sẽ giúp bảo vệ các khớp tránh sự đè ép không cân đối. Ở tư thế thẳng sinh lý, diện tích tiếp xúc giữa hai mặt khớp sẽ đạt mức tối đa, vì thế lực đè ép sẽ tối thiểu. Hơn nữa, khi đó sẽ có sự cân bằng lực giữa các dây chằng và cơ bắp quanh khớp, giúp giảm bớt nhiều nhất lực đè ép lên hai mặt sụn khớp.

4. Sử dụng các khớp lớn trong mang vác nặng

Khi nâng hay xách đồ nặng, bạn cần chú ý sử dụng lực cơ của các khớp lớn như ở tay là khớp vai, khớp khuỷu; ở chân là khớp háng, khớp gối. Khéo léo sử dụng nguyên tắc đòn bẩy ở những khớp lớn để tránh làm tổn thương các khớp nhỏ như cổ tay, cổ chân, bàn tay, bàn chân.

5. Giữ nhịp sống thoải mái

Bạn nên sắp xếp công việc hợp lý, hài hòa giữa nghỉ ngơi và lao động. Nên nhớ rằng các cơ quan trong cơ thể đều cần có sự nghỉ ngơi để tái tạo lại năng lượng. Không nên lặp đi lặp lại một công việc hay tư thế làm việc kéo dài quá sức chịu đựng của cơ thể. Lực tác động không lớn nhưng nếu lặp đi lặp lại trong thời gian quá dài sẽ làm tổn thương khớp.

6. Phải biết "lắng nghe" cơ thể

Cơ thể chúng ta có cơ chế báo động rất tuyệt vời. Khi có vấn đề nó sẽ báo động ngay cho bạn. Trong đó đau là dấu hiệu báo động chủ yếu. Phải ngưng ngay lập tức các vận động nếu chúng gây đau.

7. Thay đổi tư thế thường xuyên

Nên thường xuyên thay đổi các tư thế sinh hoạt. Tránh nằm lâu, ngồi lâu, đứng lâu một chỗ vì sẽ làm ứ trệ tuần hoàn và gây cứng khớp. Có thể đây là yếu tố chính yếu gây ra thoái hóa khớp do nghề nghiệp, nhất là ở những người lao động trí óc.

8. Sự luyện tập "như một chiến binh" sẽ làm hại bạn

Khi khớp của bạn có vấn đề, lời khuyên nên vận động của bác sĩ có thể được bạn hăng hái thực hiện một cách quá mức. Nguyên nhân thường là nỗi lo sợ thầm kín báo hiệu tuổi già của những người thành đạt trong cuộc sống, là sự âu lo nếu bạn là trụ cột của gia đình. Những lý do này khiến bạn vội vã lao vào tập luyện như những người lính cứu hỏa dập tắt đám cháy. Tuy nhiên điều này không thể áp dụng cho tổn thương khớp. Do sụn khớp phải trải qua một thời gian dài tác động mới bị hư hỏng (thoái hóa), vì vậy khi bạn cảm thấy đau nghĩa là nó đã hư khá nặng. Sự nghỉ ngơi sẽ làm ngừng gia tăng mức độ tổn thương. Còn sự vận động sẽ giúp nó phục hồi nhưng cần phải tăng dần cường độ. Nếu bạn quá gắng sức hay nóng nảy trong luyện tập để đốt giai đoạn, thì vô tình sẽ làm chết lớp sụn mới còn non yếu do các lực tác động quá mức của chính mình. Nên bắt đầu bằng những động tác nhẹ nhàng và chậm rãi, sau đó mới tăng dần lên tùy vào sự phản ứng của cơ thể.

9. Bảo vệ cơ thể trước những bất trắc trong sinh hoạt

Khi ra khỏi nhà, bạn nên cẩn thận chuẩn bị những dụng cụ bảo vệ cổ tay và khớp gối, nhằm đề phòng những tình huống bất ngờ có thể làm bạn bị chấn thương.

10. Ðừng ngại ngần khi có yêu cầu trợ giúp

Bạn không nên cố gắng làm một việc gì đó quá sức của mình. Nếu cảm thấy khó khăn, nên nhờ người khác trợ giúp. Mang vác hay xách một vật nặng có thể làm bạn đau nhức kéo dài nhiều ngày. Tình trạng đau nhức này thể hiện sự tổn thương của cơ thể. Từ những lỗ nhỏ có thể phát triển thành những sang thương lớn hơn trên mặt sụn khớp.

ĐƯỜNG DÂY NÓNG

- Bộ y tế:       1900.9095

- Sở y tế:       0969.871.919

- Bệnh viện:  0969.861.919

GIỜ KHÁM BỆNH

- SÁNG: 7h00 - 11h00

- CHIỀU: 11h00 - 17h00

Khám bệnh từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần (trừ ngày lễ, tết)

Thống kê thành viên truy cập

00351384

Trang web hiện có:
15 khách & 0 thành viên trực tuyến

Slogan1

Bản quyền thuộc về Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang
Địa chỉ: 917 Tôn Đức Thắng - Phường Vĩnh Mỹ - Thành Phố Châu Đốc - An Giang

Được thiết kế bởi Tổ Vi Tính - Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang - Điện thoại: 0763.569568 - Email: bvdkkv.angiang@gmail.com
Copyright © 2012. All Rights Reserved.