Banner SYT
  • IMG_0032.jpg
  • IMG_0040.jpg
  • khkt4.jpg
  • khkt8.jpg
  • khkt9.jpg
  • khkt10.jpg
  • khkt15.jpg
  • khkt18.jpg
  • LOGIN.jpg

1. Sử dụng kháng sinh nhiều lần, gia tăng bệnh đái tháo đường

         Đó là kết luận rút ra từ nghiên cứu của ĐH Pennsylvania, Mỹ (MOP) sau khi hoàn thành nghiên cứu dài kỳ ở 200.000 bệnh nhận đái tháo đường (ĐTĐ) và 800.000 người không mắc bệnh ĐTĐ ở Anh. Thuốc kháng sinh trong nghiên cứu gồm 4 loại thông dụng là penicillin, cephalosporin, quinolone và macrolide. Càng dùng nhiều kháng sinh thì rủi ro mắc bệnh ĐTĐ càng tăng. Ví dụ, nhóm dùng 2 - 5 liều penicillin thì rủi ro mắc bệnh ĐTĐ cao hơn 8% so với người dùng 1 liều penicillin. Những ai dùng trên 5 liều thì nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ tăng 23% so với nhóm chỉ dùng 1 hoặc không dùng kháng sinh bao giờ.

Riêng những người dùng quinolone từ 2 - 5 liều thì tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tăng 15% và tăng lên 37% nếu dùng trên 5 liều so với những người không dùng quinolone. Đặc biệt những người không bao giờ dùng kháng sinh thì rủi ro mắc bệnh ĐTĐ ở mức thấp nhất.

Mặc dù rủi ro tăng bệnh ĐTĐ là có thật nhưng các nhà khoa học cũng không biết chính xác bao nhiêu lần dùng kháng sinh có thể tăng bệnh ĐTĐ. Điều chắc chắn, thuốc kháng sinh làm mất cân bằng loại vi khuẩn thân thiện và đây chính là lý do rất tiềm ẩn làm tăng bệnh ĐTĐ, nhất là nhóm người có rủi ro mắc bệnh cao.      (Theo LCS, 3/2015)

2. Cảnh giác các thuốc gây tăng đường huyết

     Việc sử dụng một số nhóm thuốc chữa bệnh có thể gặp tác dụng phụ làm giảm tiết insulin của tuyến tụy hoặc làm tăng đề kháng insulin, đều gây tăng đường huyết ... Điều này ảnh hưởng đến sức khỏe của người bình thường và đặc biệt nguy hiểm với người bệnh đái tháo đường.

Các nhóm thuốc làm tăng đường huyết  được cảnh báo gồm:

      Thuốc điều trị tăng huyết áp

     Các thuốc lợi tiểu như furosemide, bumetanide, acetazolamide, indapamide, hydeochlorothiazid, chlorothiazi điều trị tăng huyết áp, suy tim, có thể gâytăng đường huyết do trực tiếp làm giảm tiết insulin ở tụy và làm tăng đề kháng insulin. Hầu hết các thuốc lợi tiểu này gây thải nhiều kali, làm hạ kali máu là yếu tố làm giảm tiết insulin của tuyến tụy. Đặc biệt, diazoxide có tác dụng hạ huyết áp mạnh và cũng gâytăng đường huyếtmạnh do tác dụng ức chế sản xuất insulin ở tuyến tụy.

    Các thuốc chẹn beta như propanolol và metoprolol dùng điều trị tăng huyết áp, suy tim, nhịp tim nhanh cũng gây tăng đường huyết nhẹ do làm tăng tạo glucose và giảm tiết insulin của tuyến tụy.

    Thuốc chống viêm

Nhóm thuốc chống viêm, chống dị ứng và ức chế miễn dịch (như các chế phẩm của corticoid: prednisolon, methylprednisolon, dexamethason…) được dùng điều trị nhiều bệnh liên quan đến phản ứng viêm (như viêm khớp hay dị ứng). Các thuốc này không trực tiếp làm tăng đường huyết nhưng gián tiếp ảnh hưởng lên sự bài tiết insulin nên cũng làm đường huyết tăng. Dạng thuốc tiêm hấp thu vào máu nhanh hơn nên cũng gây hạ đường huyết nhanh hơn dạng thuốc uống.

Glucocorticoid được sử dụng trong điều trị viêm khớp, hen phế quản, dị ứng... Dù được sử dụng theo đường uống hay tiêm truyền tĩnh mạch, tiêm tại khớp... thì thuốc này đều có thể làm tăng cao đường huyết. Nguyên nhân là do glucocorticoid không những làm tăng tổng hợp glucose mà còn làm tăng đề kháng insulin.

      Thuốc nội tiết

Levothyroxin, levothyrox, L-thyroxin... được dùng để điều trị cho những người bị suy giáp trạng. Những bệnh nhân được điều trị L-thyroxin liều cao sẽ gặp phải tình trạng tăng đường huyết do thuốc làm tăng đề kháng dẫn đến làm giảm tác dụng của insulin. Tuy nhiên, việc tăng đường huyết chỉ xảy ra khi dùng với liều cao, còn nếu dùng liều thấp và trung bình thì không xảy ra các tác dụng bất lợi này.

Thuốc tránh thai estrogen, progesteron có khả năng gây tăng đường huyết do làm tăng đề kháng với insulin ở các mô. Đặc biệt, những phụ nữ thừa cân, béo phì hoặc có tiền sử bị tiểu đường thai kỳ cần lưu ý đặc biệt khi sử dụng thuốc này.

     Thuốc an thần

Thuốc an thần như: olanzapine, quetiapine, risperidone… làm giảm tiết insulin, là nguyên nhân tăng đường huyết. Bệnh nhân đái tháo đường cao tuổi phải dùng đến thuốc an thần có nguy cơ tăng đường huyết, đặc biệt trong 2 tuần lễ đầu. Tỷ lệ tăng đường huyết ở những bệnh nhân này là 50%, gây khó khăn trong điều trị hạ đường huyết. Phenobarbital (dùng an thần, gây ngủ) làm tăng chuyển hoá thuốc sulfonylure qua gan, làm tăng thải trừ chúng ra khỏi cơ thể, do đó làm giảm tác dụng hạ đường huyết của thuốc

      Thuốc trị hen

Thuốc chủ vận beta 2 (salbutamol, terbutalin, ridodrin) kích thích tiết isulin đáng lẽ làm giảm đường huyết nhưng vì lại làm tăng tạo ra glucose ở gan nhiều hơn, hậu quả là làm tăng đường huyết. Epinephrin, dopamin, thyophylin cũng gây tăng đường huyết theo cơ chế tương tự.

      Các thuốc khác

Các thuốc chứa đường với hàm lượng cao như siro ho, dung dịch tiêm truyền glucose… gây tăng đường huyết nhiều. Các thuốc chứa đường với hàm lượng thấp (như viên bao đường) không gây tăng đường huyết đáng kể ở liều điều trị.

Ngoài ra, thuốc cyclophosphamid (dùng trong các bệnh khớp, ung thư), các thuốc chống viêm không steroid (dùng trong viêm khớp dạng thấp, gút), nicotin (trong khói thuốc lá), caffein (trong cà phê) đều làm tăng đường huyết ở mức nhẹ.

Phenytoin (dùng chống động kinh, cũng dùng điều trị biến chứng thần kinh do bệnh đái tháo đường) có thể gây tăng đường huyết nhiều do ức chế giải phóng insulin từ tụy.

Niacin (dùng điều trị rối loạn mỡ máu) có thể gây tăng đường huyết do làm tăng đề kháng insulin, tuy nhiên, mức gây tăng đường huyết nhẹ. Người đái tháo đường vẫn có thể dùng thuốc này trong điều trị rối loạn mỡ máu nhưng cần theo dõi liều cẩn thận, nếu gây tăng đường huyết nhiều có thể ngừng thuốc và thay thế bằng thuốc khác..

      Người bệnh cần lưu ý

Phần lớn các thuốc trên chỉ gây tăng đường huyết tạm thời. Với người có đường huyết bình thường, đường huyết sẽ ổn định trở lại sau khi ngừng dùng thuốc. Nhưng những thuốc đó cũng có thể làm tăng đường huyết nhiều cho người bệnh đái tháo đường khi phải dùng để chữa các bệnh kèm theo. Những loại thuốc trên có thể làm giảm hiệu lực kiểm soát đường huyết của thuốc trị đái tháo đường nhưng vẫn là thuốc điều trị chủ lực trong các bệnh liên quan. Ở người có đường huyết bình thường, dùng corticoid kéo dài được xem như một yếu tố thuận lợi làm tăng nguy cơ mắc đái tháo đường. Khi gặp tác dụng bất lợi tăng đường huyết do dùng thuốc, người bệnh cần thông báo cho bác sĩ ngay để có phương hướng khắc phục. 

3. ANSM (Pháp):

Cefepim và khuyến cáo nhắc lại từ Cơ quan quản lý dược phẩm Pháp (ANSM) về nguy cơ gặp phản ứng có hại nghiêm trọng, đặc biệt trên bệnh nhân suy thận khi không tuân thủ chế độ liều

    Ngày 01/10/2014, Cơ quan quản lý dược phẩm Pháp (ANSM) đã gửi khuyến cáo tới cán bộ y tế trong đó nhấn mạnh lại sự cần thiết phải hiệu chỉnh liều cefepim theo chức năng thận trong quá trình điều trị khi độ thanh thải creatinin dưới 50 ml/phút. Khuyến cáo này được đưa ra sau một số trường hợp tử vong được ghi nhận liên quan đến việc sử dụng liều cefepim không phù hợp với chức năng thận, đặc biệt trên người bệnh cao tuổi.  

Cefepim (biệt dược Axepim® và các thuốc generic) là kháng sinh cephalosporin đường tiêm với chỉ định trong một số trường hợp nhiễm khuẩn gây ra bởi các vi khuẩn nhạy cảm với cefepim ở người lớn như: nhiễm khuẩn huyết, viêm phổi mắc phải ở cộng đồng và viêm phổi nặng, nhiễm trùng tiết niệu có hoặc không có biến chứng, sốt giảm bạch cầu hạt, nhiễm trùng đường mật ở người lớn. Ở trẻ nhỏ từ 2 tháng tuổi trở lên, cefepim có thể được chỉ định trong trường hợp sốt giảm bạch cầu hạt khi tình trạng giảm bạch cầu hạt được dự đoán chỉ xảy ra trong thời gian ngắn. 

Cefepim được thải trừ qua thận và chủ yếu bằng lọc cầu thận. Do đó trên bệnh nhân có chức năng thận suy giảm, đặc biệt là người cao tuổi và bệnh nhân suy thận, liều của cefepim cần được hiệu chỉnh để tránh tình trạng tích lũy thuốc gây độc tính. Cefepim có khả năng gây ra các rối loạn nghiêm trọng trên hệ thần kinh. Một số trường hợp bệnh não hiếm gặp có thể hồi phục liên quan đến cefepim đã được báo cáo với các biểu hiện như rối loạn cảm giác và nhận thức, choáng ngất, ảo giác, các cơn co giật... Mặc dù trong đa số các trường hợp, triệu chứng trên thần kinh sẽ cải thiện sau khi ngừng thuốc và/hoặc thẩm tách máu, một số trường hợp tử vong cũng đã được ghi nhận. Sau khi đánh giá các trường hợp này, Cơ quan quản lý dược phẩm Pháp (ANSM) đã gửi thông báo đến các cán bộ y tế trong đó nhấn mạnh lại sự cần thiết phải hiệu chỉnh liều cefepim trong suốt quá trình điều trị cho bệnh nhân có độ thanh thải creatinin thấp hơn 50 mL/phút, đặc biệt ở người cao tuổi, theo hướng dẫn trong Tóm tắt đặc tính sản phẩm, cụ thể như sau:

Liều thông thường (theo chỉ định ở người lớn và ở trẻ em)

Liều hiệu chỉnh liều tương ứng theo mức độ suy thận

Độ thanh thải creatinin (ml/phút) :

50 – 30

29 – 11

≤ 10

Thẩm tách máu

1g x 2 lần/ngày

1 g x 1 lần/ngày

500 mg x 1 lần/ngày

250 mg x 1 lần/ngày

liều tấn công: 1g, liều duy trì 500 mg x 1 lần/ngày

2g x 2 lần/ngày

2 g x 1 lần/ngày

1 g x 1 lần/ngày

500 mg x 1 lần/ngày

liều tấn công: 1g, liều duy trì 500 mg x 1 lần/ngày

2g x 3 lần/ngày

1g x 3 lần/ngày

1 g x 2 lần/ngày

1 g x 1 lần/ngày

liều tấn công: 1g, liều duy trì 500 mg x 1 lần/ngày

50mg/kg x 3 lần/ngày

25 mg/kg x 3 lần/ngày

25 mg/kg x 2 lần/ngày

25 mg/kg x 1 lần/ngày

 

Bên cạnh đó, ANSM cũng khuyến cáo cán bộ y tế cần theo dõi chặt chẽ chức năng thận trong trường hợp cefepim được sử dụng đồng thời với các kháng sinh có khả năng gây độc với hệ thần kinh khác (như các aminoglycosid) hoặc các thuốc lợi tiểu mạnh.

Duyệt tổ thông tin thuốc    

ĐƯỜNG DÂY NÓNG

- Bộ y tế:       1900.9095

- Sở y tế:       0969.871.919

- Bệnh viện:  0969.861.919

GIỜ KHÁM BỆNH

- SÁNG: 7h00 - 11h00

- CHIỀU: 11h00 - 17h00

Khám bệnh từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần (trừ ngày lễ, tết)

Thống kê thành viên truy cập

00332052

Trang web hiện có:
19 khách & 0 thành viên trực tuyến

Slogan1

Bản quyền thuộc về Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang
Địa chỉ: 917 Tôn Đức Thắng - Phường Vĩnh Mỹ - Thành Phố Châu Đốc - An Giang

Được thiết kế bởi Tổ Vi Tính - Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang - Điện thoại: 0763.569568 - Email: bvdkkv.angiang@gmail.com
Copyright © 2012. All Rights Reserved.