Banner SYT
  • IMG_0032.jpg
  • IMG_0040.jpg
  • khkt4.jpg
  • khkt8.jpg
  • khkt9.jpg
  • khkt10.jpg
  • khkt15.jpg
  • khkt18.jpg
  • LOGIN.jpg

PHƠI NHIỄM VỚI KHÁNG SINH TỪ SỚM LÀM TĂNG  NGUY CƠ DỊ ỨNG, ECZEMA VỀ SAU

Kết quả tổng quan đánh giá và phân tích tổng hợp của một nghiên cứu báo cáo tại ERS2016 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh dị ứng và eczema ở trẻ em phơi nhiễm kháng sinh từ 2 năm đầu đời cao hơn so với những trẻ em không phơi nhiễm. Chủ nhiệm nghiên cứu, tiến sĩ dược khoa Fariba Ahmadizar - trường đai học Utrecht, Hà Lan khuyến cáo các bác sĩ phải xem xét thật kỹ khi kê toa kháng sinh, nhất là đối với trẻ nhỏ.

TS Ahmadazar và đồng nghiệp đã tổng hợp các nghiên cứu đoàn hệ, đối chứng, cắt ngang được công bố giữa tháng 1 năm 1966 và tháng 11 năm 2015.

Tổng hợp có 21 nghiên cứu liên quan đến 394.517 trẻ em bị viêm mũi dị ứng, 22 nghiên cứu liên quan đến 229.080 trẻ em bị eczema và 12 nghiên cứu có cả 2 bệnh trên.

  • Nhìn chung, việc phơi nhiễm với kháng sinh từ sớm có liên quan đến nguy cơ làm tăng tỷ lệ viêm mũi dị ứng (tỷ số nguy cơ [OA], 1.23) và eczema (OR, 1.26).
  • Mối liện hệ giữa phơi nhiễm sớm với kháng sinh với bệnh dị ứng và eczema tăng lên với những trẻ dùng nhiều hơn một liệu trình điều trị bằng kháng sinh. Các nhà nghiên cứu đã không đủ dữ liệu để xem xét mối liên hệ giữa từng bệnh nhân với từng loại kháng sinh.
  • Cụ thể hệ vi sinh vật đường ruột được cho là đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triến của hệ thống miễn dịch từ những năm đầu đời và giảm tính đa dạng của vi sinh vật đường ruột do tiếp xúc với kháng sinh trong giai đoạn 6 tháng đầu sau khi sinh dẫn đến sự mất cân bằng phản ứng hoạt hóa đại thực bào (TH1) với hoạt hóa tế bào lympho B (TH2) vốn liên quan đến nguy cơ gia tăng dị ứng và các rối loạn liên quan đến miễn dịch.

Các nhà nghiên cứu đã thấy trong các nghiên cứu cắt ngang ghi nhận được những nguy cơ cao nhất.

Tỷ số odd cho các bệnh theo từng loại nghiên cứu

Loại nghiên cứu

Dị ứng

Eczema

Đoàn hệ

1.18

1.24

Đối chứng

1.14

1.15

Cắt ngang

1.56

1.41

Tuy nhiên, TS Ahmadiyar cho hay họ không tìm thấy bất kì sự khác biệt nào có ý nghĩa thống kê giữa các nghiên cứu khác nhau hoặc độ tuổi của trẻ em về việc phơi nhiễm với thuốc kháng sinh và chẩn đoán bị dị ứng.

Cũng theo TS Ahmadiyar những phát hiện này có thể được giải thích bởi các tác động điều hòa miễn dịch kháng sinh:

Tài liệu tham khảo: Ahmadiyar F, et al. Early life antibiotic exposure is associated with an increased risk of allergy. ERS2016; Abstract #2015.

________//________

CẬP NHẬT KHUYẾN CÁO ĐIỀU TRỊ ĐAU  DO NGUYÊN NHÂN THẦN KINH CỦA IASP 2016 

Một nhóm các nhà nghiên cứu về đau do nguyên nhân thần kinh (NeuPSIG) thuộc Tổ chức quốc tế về đau (IASP) vừa mới công bố nghiên cứu tổng quan hệ thống các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên (RCT). Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá các phác đồ điều trị đau thần kinh sử dụng thuốc đường uống và dùng ngoài tại chỗ, đồng thời qua đó cập nhật các khuyến cáo trong điều trị tình trạng đau thần kinh.

Các khuyến cáo đầu tay

Với bằng chứng mạnh trên lâm sàng, các khuyến cáo đầu tay bao gồm gabapentin ờ cả 2 dạng bào chế phóng thích tức thời và phóng thích kéo dài (ER); pregabalin; chất ức chế tái hấp thu serotonin/norepinephrine (SNRI) (duloxetine, venlafaxine) và thuốc chống trầm cảm 3 vòng (TCA).

Đa số các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng giả dược trên pregabalin đều cho thấy hiệu quả của thuốc. Thuốc cho hiệu quả phụ thuộc liều, cụ thể, liều 600mg/ngày cho đáp ứng tốt hơn so vối liều 300mg/ngày.Tương tự, hầu hết các nghiên cứu về gabapentin và gabapentin ER/encarbil cũng cho thấy hiệu quả giảm đau thần kinh.

Trong nhóm SNRI, duloxetine cho thấy hiệu quả ở 9 trên 14 nghiên cứu với liều dao động từ 2mg đến 20mg, venlafaxine ở 2 trên 4 nghiên cứu với liều từ 150mg đến 225mg (2 nghiên cứu dùng liều thấp hơn không cho thấy hiệu quả).

Amitriptyline là thuốc được nghiên cứu nhiều nhất trong nhóm TCA, liều dùng từ 25 đến 150mg. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng các thuốc TCA có amine bậc 3 (amitriptyline, imipramine, clomipramine) cần tránh dùng ở liều cao hơn 75mg/ngày ở người lớn tuổi vì tác dụng không mong muốn đối kháng cholinergic và tăng nguy cơ té ngã.

Thay đổi lớn nhất so với hướng dẫn điều trị được công bố lần trước của IASP NeuPSIG là rút lidocaine dạng bôi tại chỗ khỏi danh sách các điều trị đầu tay và đưa xuống hàng thứ 2.

Các khuyến cáo hàng thứ 2

Với bằng chứng yếu hơn, các phác đồ hàng 2 gồm miếng dán lidocain, miếng dán capsaicin 8% và tramadol. Do tiêu chí lựa chọn của nghiên cứu tổng quan trên yêu cầu các nghiên cứu RCT phải kéo dài 3 tuần, chỉ 1 nghiên cứu âm tính về lidocain dùng tại chỗ được đánh giá. Tuy nhiên, các nghiên cứu ngắn hạn lại cho thấy hiệu quả, thậm chí tính an toàn và khả năng dung nạp khi điều trị của thuốc. Cần lưu ý rằng lidocain nên được xem xét như một điều trị đầu tay cho bệnh nhân lớn tuổi hoặc suy nhược và có thể không dung nạp các phác đồ điều trị đầu tay khác.

Miếng dán capsaicin nồng độ cao được nghiên cứu chủ yếu trong điều trị đau đa dây thần kinh liên quan đến HIV và đau thần kinh sau herpes. Mặc dù có bằng chứng mạnh và có đến 5 trên 7 nghiên cứu cho thấy hiệu quả, miếng dán capsaicin vẫn bị xếp vào điều trị hàng 2 do phải hướng dẫn sử dụng phức tạp, khoảng tác động hẹp và các lo ngại về các tác dụng không mong muốn có thể có khi sử dụng lâu dài.

Các thuốc sử dụng tại chỗ thường được xem là không có hiệu quả cho các cơn đau thần kinh qua trung gian trung ương, như chấn thương cột sống. Tramadol, một chất chủ vận opioid yếu có tác động ức chế tái thu hồi serotonin và norepinephrine, cho thấy hiệu quả trong tất cả các nghiên cứu trong bài tổng quan.

Các khuyến cáo hàng ba và khác

Một thay đổi khác so với hướng dẫn điều trị trước là việc đưa các opioid, trừ tramadol, từ điều trị hàng hai xuống hàng ba do các lo ngại về nguy cơ sử dụng sai, lạm dụng và quá liều. Các opioid, chủ yếu là morphin và oxycodone, đã được nghiên cứu và cho thấy hiệu quả trong điều trị đau thần kinh ngoại biên.

Botulinum toxin loại A (BTX-A) là một loại thuốc mới trong hướng dẫn điều trị của IASP cho điều trị hàng ba.BTX-A phải được tiêm dưới da ở vùng đau bởi nhân viên y tế. 4 trên 6 nghiên cứu về liều đơn BTX-A cho thấy hiệu quả và tính an toàn tốt.

Các tác giả khuyến cáo không nên sử dụng valproate, cannabinoids, levetiracetam và mexiletine để điều trị đau thần kinh. Nhiều thuốc khác cũng không được đưa vào hướng dẫn điều trị do thiếu dữ liệu.

Bàn luận

Thầy thuốc cần đánh giá cơn đau của bệnh nhân và nếu như nghi ngờ là đau do nguyên nhân thần kinh, cần đề nghị kết hợp thuốc giảm đau với thuốc khác như thuốc chống co giật hoặc chống trầm cảm. Điều trị bằng opioid thường cho hiệu quả kém và các thuốc nonopioid như paracetamol hoặc NSAIDs không có hiệu quả trong điều trị đau thần kinh.

Theo hướng dẫn điều trị mới này, gabapentin, pregabalin và các thuốc nhóm SNRI sẽ tiếp tục được dùng thường xuyên cho điều trị đau thần kinh. Tuy rằng lidocain dùng tại chỗ đã được đưa xuống hàng thứ 2, thuốc này có vẻ vẫn sẽ được sử dụng rộng rãi do có tính an toàn.

Tài liệu tham khảo : Finnerup NB, et al. Pharmacotherapy for neuropathic pain in adults: a systematic review and meta-analysis. Lancet Neurol. 2015; 14: 162-173. Pubmed

                                                                    Duyệt của tổ thông tin thuốc

ĐƯỜNG DÂY NÓNG

- Bộ y tế:       1900.9095

- Sở y tế:       0969.871.919

- Bệnh viện:  0969.861.919

GIỜ KHÁM BỆNH

- SÁNG: 7h00 - 11h00

- CHIỀU: 11h00 - 17h00

Khám bệnh từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần (trừ ngày lễ, tết)

Thống kê thành viên truy cập

00342459

Trang web hiện có:
66 khách & 0 thành viên trực tuyến

Slogan1

Bản quyền thuộc về Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang
Địa chỉ: 917 Tôn Đức Thắng - Phường Vĩnh Mỹ - Thành Phố Châu Đốc - An Giang

Được thiết kế bởi Tổ Vi Tính - Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Tỉnh An Giang - Điện thoại: 0763.569568 - Email: bvdkkv.angiang@gmail.com
Copyright © 2012. All Rights Reserved.